0934 035 467

MỘT SỐ HÌNH ẢNH DỊ NGUYÊN GÂY BỆNH HEN SUYỄN

I. DỊ NGUYÊN GÂY BỆNH HEN SUYỄN LÀ GÌ?

Dị nguyên là những chất có tính kháng nguyên, lạ với cơ thể; từ bên ngoài môi trường vào cơ thể hoặc do chính cơ thể người sinh ra; có khă năng gây ra tình trạng dị ứng.

mốc
nấm mốc
con mạt bụi nhà
con mạt bụi nhà
cho
lông chó
nấm penicillin
nấm penicillin
phấn hoaambrosia
Phấn hao ambrosia hạt phấn hoa
ong
con ong

 

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊ NGUYÊN GÂY BỆNH HEN SUYỄN

–  Dị nguyên có tính kháng nguyên nghĩa là có khả năng kích thích cơ thể sinh ra kháng thể và kết hợp đặc hiệu với kháng thể đó. Sự kết hợp này tạo nên tình trạng dị ứng. Dị nguyên có thể là những phức hợp: protein, protein + polysaccarid, protein + lipid, lipid +  polysaccarid, protein + hóa chất đơn giản

– Những Phức hợp này có tính kháng nguyên đầy đủ. Một vài protein không có tính kháng nguyên, hoặc có tính kháng nguyên không hoàn toàn. một số phức hợp lipid + polysaccarid có tính kháng nguyên mạnh, như nội độc tố của nhiều vi khuẩn Gram âm. Phần lớn các protein của người , động vật và một vài loại polysaccarid có tính kháng nguyên hoàn toàn. Hầu hết các polysaccarid, một vài loại lipid và hóa chất đơn giản  có tính kháng nguyên không hoàn toàn. Đó là những hapten có chức năng năng là nhóm cấu thành kháng nguyên của phân tử protein, ví dụ nhân amin thơm, làm cho cấu trúc dị nguyên có những thay đổi nhất định.

– Landsteiner K (1936) đã dùng dây nối azoprotein và một vài kỹ thuật khác để tìm hiểu tính đặc hiệu của dị nguyên. Tính đặc hiệu này do một cấu trúc đặc biệt trên bề mặt phân tử của dị nguyên. Theo  Landsteiner, việc gắn các nhân thơm vào protein làm cho protein có tính kháng nguyên mới.

– Cấu trúc hóa học, vị trí cấu thành kháng nguyên, cách sắp xếp acid amin trong dãy polypeptid là điều kiện quyết định tính đặc hiệu của kháng nguyên là sinh ra kháng thể, có thể phản ứng với kháng thể đó. Điều này giải thích sự tồn tại của phản ứng dị ứng chéo. Dẫn chứng là các phản ứng  dị ứng giữa các chất: anhydrit xitraconic; clorua ftalic; O.clorua clorobenzoil; clorua pircrin. Mẫn cảm chuột lang bằng anhydrit xitraconic , làm thử nghiệm bì với clorua ftalic, anhydrit .

Mayer (1954) cho rằng tác dụng gây mẫn cảm của các hóa chất do sản phẩm chuyển hóa của các chất này trobng cơ thể. Như trường hợp paraphenylendiamin, acid paraamonibenzoic, sulfanilamid, procain chuyển hóa trong da và các tổ chất thành amin quinonic hoặc dẫn xuất phenylhydroxylamin, các chất chuyển hóa đã kếp hợp với protein, chúng có tác động mẫn cảm da và tổ chức ,các hóa chất amino, nitro, diazo, COHN3. Những nhóm cấu thành tương tự của phân tử protein sẽ là các nhóm phenol, cacboxyl…. Những gốc hoạt động của protein , kết hợp với dị nguyên là : – COOH – SH – NH2 – NHCNH2

III. Tính Kháng Nguyên (KN) Của Phụ thuộc Vào Một Số Yếu

Tố Sau

* là chất ” lạ” đối với cơ thể

Phân tử DN không giống bất cứ một thành phần nào của cơ thể. Đây là điều kiện tuyệt đối đối với DN, càng lạ tínhkháng nguyên càng mạnh . Cơ thể không bao gồm tổng hợp kháng thể (KT) chống lại những thành phấn của bản thân nó, trừ một ngoại lệ.

* Phân tử lượng của DN đủ lớn

– những chất có phân tử lượng (PTL) lớn hơn 10.000 đv Dalton mới bắt đầu có tính KN, nhưng còn yếu. Những chất có cấu trúc  hóa học càng phức tạp, PTL càng lớn (hơn 600.000) thì KN càng Mạnh.

– Các chất có PLT nhỏ thường không có tính kháng nguyên.

– Tuy nhiên có những ngoại lệ . Ví dụ dextran có PTL khoảng 100.000 đv Dalton nhưng tính KN rất yếu. Ngược lại glucagon (hormon tuyết tụy nội tiết) PTL chỉ klhoangr 3.500 và insulin có PTL 6.000 Dalton nhưng tính KN khá mạnh. Một số hóa chất có PTL nhỏ ( clorua picryl, formol v.v…) vẫn có tính KN và gây nên tình trạng dị ứng như viêm da tiếp xúc. Các chất này làm biến chất protein của cơ thể. Chính các protein biến chất này mới có tính KN đầy đủ, còn các hóa chất kể trên chỉ tham gia vào tư cách hapten.

*Cấu trúc của DN phức tạp

– Hầu hết các protein đều có tính KN, trừ một số ít gelatin, fibrinogen, casein. Tính KN của protein phụ thuộc vào bản chất và cấu trúc, Số lượng amin acid thơm và vị trí đồng phân của nhóm hóa học nhất định trong protein (-NH2). Phân tử DN protein do nhiều dãy peptid cấu thành. Mỗi dãy polypeptid gồm nhiều acid amin khác nhau, nối với nhau bằng nhóm -C-NH Chiến dịch của giun sán (giun đũa , giun chỉ,v.v..) có tính kháng nguyên cực mạnh, cũng như độc tố vi khuẩn. Protein nguồn thực vật cũng là DN mạnh.

– DN có cấu trúc hóa học là polysaccarid, lipip, acidnucleic có tính KN không đồng đều, nói chung là yếu ( happen).

IV. MỘT SỐ DỊ NGUYÊN THƯỜNG GẶP

3.1. Dị nguyên ngoại sinh

mèo
lông mèo

Là những chất lạ chủ yếu có bản chất protein từ môi trường xâm nhập vào cơ thể và có khả năng dị ứng.

3.1.1. Dị nguyên phấn hoa

– Cấu trúc phấn hoa: phấn hoa thường có màu vàng, đôi khi màu tím hoặc màu khác. Các hạt phấn dính liền nhau thành khối phấn như hoa lan, hoa thiên lý. Hạt phấn có hai nhân: nhân sinh trưởng và nhân sinh sản. Xunh quanh hạt phấn có hai lớp màng : màng ngoài hóa catin, rắn, không thấm, tua tủa những cái như gai, mào, từng quãng có những chỗ trống gọi là lỗ nảy mầm.

– Kích thích của hạt phấn theo từng loại cây, cỏ , trung bình từ 0,01 – 0,25 mm. Phấn hoa gây bệnh có kích thước nhỏ 0,05 mm. Phấn hoa hồng , lan , sữa, cỏ đuôi mèo, cỏ chân vịt, liễu , cỏ cựa gà, cúc , thược dược, lay ơn, đào….. có kích thích đều rất nhỏ (0,01-0,05mm).

hoa sữa
phấn hoa sữa

– Mật độ phấn hoa phải rất lớn: Ví dụ : một gốc cây lúa có tới 50 triệu hạt phấn. Một cụm Ambrosia cho 8 tỷ hạt phấn. Vì vậy loại hoa này gây nhiều bệnh dị ứng ở các nước châu Âu.

hoa cỏ dại
hoa cỏ dại

– Phấn hoa gây bệnh thường là loại hoa thụ phấn nhờ gió, hạt phấn hoa của cây thông có hai quả bóng nhỏ chứa đầy khí hai bên nên rất nhẹ và bay xa khi có gió.

hạt phân của hoa

– Các DN phấn hoa là nguyên nhân của nhiều hội chứng dị ứng trong mùa ra hoa đặc biệt khi có “ mưa phấn hoa” . Đường hô hấp : viêm mũi dị ứng, hen phế quản…. mắt: viêm kết mạc mùa xuân; và các bệnh khác : sốt mùa, giả cúm….

3.1.2.  Dị nguyên thực phẩm

– Dị ứng thực phẩm đã được biết từ mấy nghìn năm trước đây với tên gọi là bệnh đặc ứng có biểu hiện ở nhiều  mức độ khác nhau, từ nhẹ đến nặng, hay gặp : viêm mũi , viêm da, mày đay, phù Quincke, choáng phản vệ, hen phế quản (HPQ).

con gián
con gián
con chuột
con chuột

– Thực phẩm chia làm hai loại chính:

* Nguồn gốc động vật: tôm, cua, cá , ốc, ếch, …trứng, sữa, các loại thịt bò, gà, thỏ….

– Dị trứng với trứng hay gặp hằng ngày với các biểu hiện : ban, mày day, khó thở, rối loại tiêu hóa. Các loại trứng gà, vịt, ngan, có những KN chung. Hoạt chất của trứng là long trắng và ôvômucoid trong long đỏ.

– Sữa bò là nguyên nhân gây dị ứng ở trẻ em. Đây là loại protein “lạ” vào cơ thể sớm nhất. Sữa bò có nhiều thành phần khác nhau như B-lactoglobulin (A và B), @ – lactoglobulin, casein (@,B) , trong đó lactoglobulin có tính KN mạnh. Sữa bò có thể gây sốc phản vệ, khó thở, rối loại tiêu hóa, mày đay, phù Quincke….

* Nguồn gốc thực vật : bao gồm nhiều loại có khả năng gây dị ứng từ 265 loại nấm ăn đến họ lúa : bột mì , bột gạo, ngô, khoai, …..,dầu các cây công nghiệp ( dừa, lạc, hạnh nhân), nhiều loại quả ,rau…)

3.1.3. Dị nguyên là thuốc

– Những tai biến dị ứng do thuốc xảy ra ngày một nhiều do lạm dụng thuốc, điều trị theo kiểu bao vây, sử dụng thuốc không đúng chỉ định.

– Tất cả các thuốc và các đường đưa thuốc vào cơ thể đều có thể gây dị ứng.

– Phần lớn thuốc là happen khi vào cơ thể phải kết hợp với protein mới trở thành DN.

Đặc điểm dị ứng do dị nguyên là thuốc:

  • Tính dị nguyên không đồng đều giữa các loại thuốc do cấu trúc hóa học và PTL của thuốc .
  • Tính mẫn cảm chéo giữa nhiều loại thuốc có cấu trúc hóa học gần giống nhau, gây nên những tai biến bất ngờ. Ví dụ Sulfamid và Novocain, penicillin và ampicillin….
  • Yếu tố di truyền, cơ địa dị ứng, tuổi, giưới có vai trò nhất định trong dị ứng thuốc.
  • Một loại thuốc có thể là nguyên nhân của nhiều triệu chứng lâm sang và ngược lại, một hội chứng lâm sàng có thể do nhiều loại thuốc. ví dụ Penicillin là nguyên nhân của mày đay , sốc phản vệ, hen phế quản, hội chứng Stevens- Johnson, Lyell…. Ngược lại mày đay không phải chỉ do penicillin mà còn do hầu hết các loại thuốc khác gây nên.

3.1.4. Dị nguyên bụi nhà

a. Thành phần:

Bụi nhà là hỗn hợp nhiều thành phần: mẩu thức ăn thừa, bào tử nấm, biểu bì (vẩy da ) long súc vật , xác côn trùng, vi khuẩn… và thành phần quan trọng nhất là con mạt bụi nhà. Phân loại bệnh: mạt bụi nhà thuộc nghành tiết túc (arthopode), thuộc lớp nhện (archnide), gồm nhiều họ, trong đó có ba họ quan trọng : Pyroglyphidae, Acaridae, Glycyphagidae. Họ Pyroglyphidae thường chiếm khoảng 90% các loại mạt bụi nhà trong vùng ôn đới. Trong đó có 4 loài hay gây bệnh là: D.pteronysinus chiếm ưu thế vùng ôn đới ( Bắc Âu), Brazil, Tây bắc châu phi) , D.farinae có nhiều ở vùng có mùa đông khô kéo dài. D.microceras, D.euroglyphusmynei. Blomia tropicalis là một loại hay gặp ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt (Brazil, Bang Florida (Hoa Kỳ)

b. Đặc điểm của mạt bụi nhà:

– Kích thích : 170 – 500 um, không cổ, đầu gắn liền với than, có bốn đôi chân, nhiều long ở than và chân.

– Thức ăn của mạt bụi nhà : vẩy da người, biểu bì và xác súc vật, nấm mốc…

– Môi trường mạt bụi nhà sống thích hợp và phát triển : độ ẩm 70 – 80% nhiệt độ khoảng 25độC, độ cao 400- 500 m so với mặt nước biển. Riêng D.pteronyssinus thích hợp với độ ẩm 50-60% và nhiệt độ >25độC. Nơi mạt bụi nhà ưa thích và phù hợp nhất: thảm trải nhà, vải trải gường, đệm, chăn , chiếu…

C. Một số đặc tính kháng nguyên của mạt bụi nhà :

– Các đặc tính loài

– Có phản ứng chéo giữa các loài và họ

– Liều nguy cơ (chỉ số tiếp xúc ) có thể gây HPQ, viêm mũi dị ứng (VMDƯ) : 2-10 ug bọ nhà/ 1gam bụi (tương đương 100 – 500 con bọ/ 1gam bụi). D.pteronyssinus và D.farinae có thể sản sinh một lượng lớn DN (50 loại) nhưng chỉ có 1/10 mang tính KN mạnh (có khả năng gây bệnh).

– Có 4 nhóm KN đã được xác định:

+ Nhóm I:  chủ yếu trong phân mạt bụi nhà : D.pteronyssinus I,  D.farinae I , D. microceras I.

+ Nhóm II: chủ yếu có ở thân con mạt  và một lượng nhỏ trong phân: D.pteronyssinus II,  D.farinae II.

+ Nhóm III và IV : chủ yếu trong phân mạt bụi nhà.

– Mỗi nhóm DN , người ta lại thấy cả sự giống nhau giữa thành phần KN của các loài , họ.

– Tính KN giữa D.pteronyssinus II,  D.farinae II : có sự phù hợp đến 88%, sự giống nhau về tính KN có thể giải thích cho các biểu hiện lâm sàng.

d. Các bệnh do DN bụt nhà :

Bụi nhà có thể gây tình trạng mẫn cảm ở người , làm tăng đáp ứng với phế quản không đặc hiệu và trong việc khởi phát các triệu chứng HPQ , VMDƯ.

3.1.5. Dị nguyên động vật

Các dị nguyên vật nuôi trong nhà được tách ra từ phân , nước tiểu và vẩy da của chúng – DN từ lông mèo: là những chất rất nhạy cảm với đường hô hấp . Protein DN Chính  tìm thấy từ da mèo , chủ yếu ở vùng mặt, các chất tiết và nước tiểu ( không có trong phân ) . Các DN này  có đường kính 3 -4 microns, dễ dàng bay trong không khí làm xuất hiện ồ ạt các triệu chứng dị ứng đường hô hấp ở người nhạy cảm.

–  DN từ lông chó: gồm hai loại protein DN quan trọng : can f1 và can f2 được chiết xuất chủ yếu từ lông và vẩy da chó . Đặc điểm DN từ chó cũng giống như ở mèo.

– DN từ các loài gậm nhấm : tình trạng dị ứng với DN của loài gậm nhấm đã được biết đến từ lâu sau khi tiếp xúc với nước tiểu của chúng.

– DN từ con gián : ở một số nơi và một số dân tộc, sự nhạy cảm với DN gián là nguyên nhân chung sự nhạy cảm với bụi nhà , đặc biệt là loài gián sống ở vùng khí hậu nhiệt đới. Những loài gián gây dị ứng hay gặp là Periplaneta American (Mỹ) , Blatella Germanica (Đức).

3.1.6. Dị nguyên thực vật

– Nấm , Mốc , Men đóng vai trò như những dị nguyên trong nhà . trong thiên nhiên có khoảng 8 vạn loại nấm nhưng chỉ có hơn 1000 loại có khả năng gây dị ứng.

– Nấm có đính bào tử màu sẩm có tính KN mạnh, là nguyên nhân của nhiều phản ứng và bệnh dị ứng như VMDƯ, HPQ, dị ứng ở da… Đáng chú ý là các nấm penicillinum, Aspergillus, Alternaria, Mucor, Rhisopus, Hermodendrum, Candida. Bào tử nấm lẫn trong bụi đường phố, bay trong klhoong khí quanh năm nhuwnmg mật độ khác nhau tùy theo từng loại nấm và từng mùa:

+  Alternaria : là loaị nấm rất thường gặp trong các mẫu không khí thuộc họ Ascomycetes, thường gặp trong các đám lá mục, vỏ cây hoặc mạt cưa hay các vật dụng hỏng, rữa, Nấm này hay gây bệnh vào cuối mùa hè.

+ Aspergillus:  thuộc họ Ascomycetes , là loại nấm hay gặp trong các mẫu không khí trong nhà, tồn tại trong mẫu thức ăn hỏng, sống trong mọi điều kiện nhiệt đọp, rất phát triển khi độ ẩm cao. Nấm này hay bệnh phổi quá mẫn.

+ Cladosporium: thường gặp trong các mẫu không khí ngoài nhà, thường trên các loại thực vật , thân gỗ , đống lá cây mục nát và ở phân hữu cơ.

3.1.7. Dị nguyên vi khuẩn và virus

a. Vi khuẩn

– Liên cầu khuẩn tan huyết B nhóm A: vỏ vi khuẩn có acid hyaluronic, vách vi khuẩn có 3 loại protein: M,T,R trong đó M có tính KH mạnh.

– Phế cầu khuẩn có hai loại KN: polysaccarid gây dị ứng tức thì , nucleoprotein gây dị ứng muộn.

– Các bệnh nhân dị ứng đường hô hấp, người ta phát hiện trong phế quản hay có các vi khuẩn : Neiseria, liên cầu khuẩn, klebsiella, phế cẩu khuẩn…., trong họng phát triển thấy tụ cầu vàng , tụ cầu trắng….

b. Virus

– Có nhiều cấu trúc KN , mẫn cảm và tác động đến cơ thể theo những quy luật nhất định , là nguyên nhân của nhiều phản ứng dị ứng trong một số bệnh nhaqan virus (sởi, herpes, quai bị, dại…).

– Virus có 3 loại kháng nguyên:

+ KN hữu hình: là dạng virus gần nguyên vẹn (có acid nucleic và protein của bao virus)

+ KN hòa tan: là thành phần KN bề mặt có tính đặc hiệu theo nhóm.

+ KN ngưng kết hồng cầu: có bản chất lipoprotein.

3.2. Dị nguyên nội sinh

– Dị nguyên nội sinh là những DN hình thành ngay trong cơ thể. Protein của cơ thể trong những điều kiện nhất định sẽ trở thành protein “lạ” đối với cơ thể và có đầy đủ những đặc điểm DN. Những điều kiện đó là : ảnh hưởng của nhiệt độ cao, thấp ,tác động của vi khuẩn, virus và độc tố của chúng, ảnh hưởng của các yếu tố lý, hóa khác như acid, base, tia xạ…. Tự dị nguyên tự nó có tính kháng nguyên, có khả năng làm hình thành các tự kháng thể và cuối cùng là xuất hiện tình trạng tự dị ứng ( miễn dịch bệnh lý) dẫn đến sự hình thành các hội chứng và bệnh tự miễn ở nhiều hệ cơ quan ( hệ nội tiết, hệ máu, hệ thần kinh….)

– Dị nguyên nội sinh chia làm hai nhóm:

3.2.1. DN nội sinh tiên phát: là tế bào và tổ chức bình thường (nhân mắt, bao myeelin, tinh trùng…) ở những vị trí rất “kín đáo” không có sự tiếp xúc với máu và hệ thống lympho bào. trong những điều kiện bệnh lý như chấn thương khi đó các tế bào và tổ chức này đi vào máu, gặp tế bào lympho lần đầu, trở thành tự dị nguyên, làm xuất hiện tự kháng thể.

3.2.2. DN nội sinh thứ phát: do các yếu tố lý hóa hoặc nhiễm trùng tạo ra .

– DN nội sinh không nhiễm trùng là những sản phẩm biến chất của protein và tổ chức do tác động của nóng , lạnh, acid, base….

– DN nội sinh nhiễm trùng, có hai loại:

+ Liên hợp: do sự kết hợp tế bào và vi khuẩn hoặc đốc tố vi khuẩn, như trong bệnh thấp tim , nhiễm virus có thể dẫn đến sự hình thành những dị nguyên có phản ứng chéo với tổ chức của bản thân cơ thể, hậu quả là phát sinh bệnh tự miễn (tự dị ứng)….

+ Trung gian: viêm não tủy sau tiêm chủng…….

Bình Luận

One thought on “MỘT SỐ HÌNH ẢNH DỊ NGUYÊN GÂY BỆNH HEN SUYỄN

  1. Jetsin says:

    Julia – I am so NOT a cool person, so if you’re looking for cool songs, move on to comment #2. But, I do like the song &##&80;Blessed228221; by Martina McBride.Love the pictures of your little man honing his warrior skills – so cute!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

YÊU CẦU NHÂN VIÊN NHÀ THUỐC GỌI LẠI