0934 035 467

CÁC LIỆU PHÁP TRỊ HEN SUYỄN KHÔNG THUỘC TÂY Y CHÍNH THỐNG

Bị bệnh hen suyễn
Bị bệnh hen suyễn

Nhiều người chúng ta vẫn không sao thanh toán hẳn bệnh hen suyễn, mặc dù đã thử qua mọi liệu pháp trong y học chính thống của phương Tây. Vì thế, một số bệnh nhân và cả đến một số bác sĩ đang tìm cách đối phó bệnh này bằng các liệu pháp khác. Theo quan điểm của những người này, xét cho cùng mỗi loại thuốc đều có nhược điểm riêng. Ngoài ra, cũng có chứng cứ cho thấy bệnh hen suyễn còn nghiêm trọng hơn ở những người lạm dụng thuốc ấy. Cho nên, tại sao chúng ta không tìm kiếm biện pháp chữa trị khác?

Có nhiều lĩnh vực để hướng tới như: châm cứu, tâm ly liệu pháp, yoga, thôi miên, thảo dược, chế độ ẩm thực, và nhiều liệu pháp khác nữa. Mỗi liệu pháp đều có người bênh vực và gặt hái đôi chút thành công ở một số bệnh nhân. Phần lớn các thông tin về các liệu pháp hen suyễn như thế đều xuất xứ từ các nước khác ngoài phương Tây, ở các nước mà các liệu pháp Tây y chính thống không được phổ biến rộng rãi vì lý do tốn kém và việc phân phối thuốc men gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó, hàng năm Hoa Kỳ mua hết khoảng phân nửa số thuốc sản xuất trên toàn thế giới; ở nước này, thuốc men bán tương đối rẻ và lại được phân phối thuận lợi cho nên hầu như có đủ thuốc men cung ứng cho mọi bệnh nhân và mọi thứ bệnh tật.

Không kể Hoa Kỳ, Âu Châu, và Nhật Bản, các nước khác trên thế giới không được may mắn như thế. Các loại thuốc và vaccine công hiệu thần kỳ nhan nhản ở các nước đã phát triển còn khá hiếm ở các quốc gia đang phát triển; do đó, các loại bệnh dễ chữa trị như bệnh tiêu chảy do nhiễm trùng chẳng hạn khá phổ biến ở các nước này. Các bệnh nhân không tiếp cận được các phát kiến kỳ diệu trong y học hiện đại, thường cậy vào các liệu pháp khác để chăm sóc sức khỏe cho họ là điều dễ hiểu. Thành quả của các liệu pháp này đôi khi cũng được tường thuật trong các sách báo y học ở các nước tiên tiến.

Trong hầu hết các trường hợp, các báo cáo đều căn cứ vào một nhóm gồm rất ít bệnh nhân, thường là dưới 20 người, khoe rằng sức khỏe của họ đã khá hơn nhờ các liệu pháp khác ấy. Xét về mặt khoa học, các báo cáo đó hoàn toàn không thể sánh được với các công trình nghiên cứu thận trọng hơn trong tây y chính thống.

Tuy vậy, người ta đã khẳng định một số bệnh nhân đã chia tay căn bênh này; và cũng dễ hiểu rằng dù sức khỏe chẳng được cải thiện là bao, các bệnh nhân ấy vẫn sẵn lòng chấp nhận các liệu pháp ấy như chiếu pháp cứu mệnh duy nhất trong hoàn cảnh không hy vọng gì tiếp cận được nền Tây y chính thống.

Mặc dù thuật ngữ ” chăm sóc sức khỏe ngoài y học chính thống ” khá mới mẻ đối với giới báo chí phương Tây, nhưng khái niệm này đã phổ cập trong dân gian từ thế kỷ 19 dưới các danh xưng khác như ” y học tổng thể ” (holistic medicine), ” y học đối chứng trị liệu ” (allopathic medicine), và ” liệu pháp vi lượng đồng căn ” (homeopathy ). Tuy khác nhau về chi tiết, nhưng lí thuyết nền tảng của các liệu pháp này đều không thuộc y học chính thống ở Hoa Kỳ. Về mức độ sử dụng các liệu pháp này đều không thuộc y học chính thống, trong một bài viết đăng trên tạp chí NewEngland Journal of Medicine năm 1993, Eisenberg và các đồng sự thuật lại rằng ít nhất có đến 1/3 dân số nói tiến Anh ở Hoa Kỳ dùng đến các liệu pháp ngoài quy ước. Và hàng ngày trên khắp thế giới có đến hàng triệu người dùng đến hệ thống y tế ngoài Tây y chính thống.

Y học tổng thể quan tâm đến tình trạng của cả thể xác lẫn tinh thần, cho rằng hai phạm trù này tương thuộc lẫn nhau. Nói chung, giới y tế chính thống đều nhất trí rằng tiền đề căn bản của y học tổng thể là đúng đắn, rằng thể xác ảnh hưởng đến tinh thần và ngược lại. Có nhiều phương pháp cân bằng tương quan hệ tinh thần/ thể xác để có được sức khỏe khả quan, có phương pháp công hiệu có phương pháp không kiến hiệu. Các công cụ thuộc liệu pháp y học tổng thể bao gồm tập thể dục, chế độ ẩm thực, thư giãn, và phản hồi sinh học ( biofeedback ). Hen suyễn góp mặt vào bức tranh y học tổng thể qua cửa ngõ này: Nếu tinh thần và thể xác tương tác nhau gây bệnh, thì việc điều chỉnh mối tương quan của chúng sẽ cải thiện sức khỏe và giảm bớt các cơn hen. Trong chừng mực nào đó, mối tương quan này quả thực có dính liếu đến bệnh hen suyễn, bởi vì như chúng ta đã biết, tập thể dục và chế độ ẩm thực chẳng hạn là các tác nhân quan trọng gây ra cơn hen suyễn.

CHÂM CỨU – TRỊ HEN SUYỄN

Biện pháp châm cứu
Biện pháp châm cứu

Châm cứu là một nghành y thuật được sáng tạo khoảng 5000 năm trước đây và hiện vẫn còn được sử dụng rộng rãi ở Trung Hoa, nhưng không phổ biến mấy ở Hoa Kỳ hen suyễn được xem là một trong số các bệnh có thể hỗ trợ điều trị bằng châm cứu; thuật này yêu cầu châm kim vào một số vị trí trên da gọi là huyệt. Kim châm cứu ghim chính xác vào một huyệt nhất định sẽ giúp cho một số bệnh nhân giảm bớt cơn bộc phát bệnh ELA cấp tính. Tình trạng thuyên giảm này thường xảy ra trong vòng nữa giờ, tuy không hoàn toàn loại bỏ và không phải bệnh nhân nào cũng cảm thấy khá hơn, nhưng các bệnh nhân hy vọng chia tay bệnh sau nhiêu đợt chữa trị bổ sung. Mức độ cải thiện sức khỏe cũng tương đối lâu dài, dù rằng tình trạng co thắt phế quản chỉ giảm bớt 50%. Châm cứu chỉ công hiệu đối với bệnh hen suyễn do tập thể dục ( ELA ), và dường như không giúp ích gì cho các bệnh hen suyễn do dị ứng hoặc viêm.

Hầu hết các thông tin về liệu pháp châm cứu đều xuất xứ ở Trung Hoa, nơi mà liệu pháp này rất phổ biến và ít tốn kém. Các ấn phẩm như tạp chí Journal of  Triditional Chineses Medicine và American Journal of Chinese Medicine đăng tải các công trình nghiên cứu đã được tiến hành về công cụ của châm cứu trong điều trị hen suyễn. Kết quả vẫn còn đáng ngờ, một số công trình chứng minh rằng châm cứu có công hiệu, một số khác thì không.

Mặc dù HOA KỲ đã tiến hành các cuộc nghiên cứu, nhưng ở nước này khó tìm được các thầy thuốc châm cứu dày dạn kinh nghiệm và việc trị hầu như không thuận lợi và tốn kém hơn nếu như châm cứu tự khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực chăm sóc  và đối phó bệnh hen suyễn.

Phản xạ liệu pháp ( reflexology ), đôi khi gọi là biện pháp vùng ( zone therapy ), là một liệu pháp gần giống châm cứu. Liệu pháp này còn được gọi là án ma pháp. (massage ), tức là xoa bóp và bấm vào một số huyệt nhất định. Để chữa trị hen suyễn, người ta dùng thủ thuật án ma đối với một số huyệt ở bàn chân và đôi khi ở bàn tay. Từ năm 1987 đến tháng 6 năm 1996, một số bài báo đăng trên các tạp chí y học bàn về phản xạ liệu pháp nhưng chưa có bài nào đề cập đến ứng dụng của nó đối với bệnh hen suyễn.

YOGA – TRỊ HEN SUYỄN

Tập yoga
Tập yoga

Yoga cũng xuất xứ từ học thuật đông phương, môn này được sáng tạo ở Ấn Độ từ đầu công nguyên. Yoga có nghĩa là ” hợp nhất” năng lượng thể chất và tâm linh để cải thiện tình hình sức khỏe và cường kiện thân thể. Yoga vận dụng các bài tập đặc biệt về thể chất và tinh thần nhằm ảnh hưởng đến vận động của hệ thần kinh tự động. Nói chung, mọi người đều công nhận mối tương quan giữa hen suyễn và hệ thần kinh tự động, nên chúng ta hy vọng giúp bệnh nhân hen suyễn cải thiện khả năng hô hấp. Trên thực tế, quả đúng như vậy.

Một khái niệm đặc biệt trong yoga ( gọi là pranayama ) đòi hỏi hành giả kiểm soát tiến trình hô hấp ( còn gọi là điều tức); khái niệm này có ý nghĩa đặc biệt đối với bệnh nhân hen suyễn. Các bài tập pranayama nhằm cải sửa lối hô hấp sao cho thì thở ra ( hô khí ) kéo dài gấp đôi thì hít vào ( hấp khí ) trong mỗi nhịp hơi thở. Lối luyện tập này cũng gồm các bài tập thở luân phiên giữa hai lỗ mũi nhằm làm sạch đường hô hấp qua mũi. Xét cho cùng, phép điều thức trong yoga cũng đã có công hiệu cải thiện chức năng phổi và tăng cường thể lực.

Các tài liệu y học bao gồm các công trình nghiên cứu về yoga hầu hết đều đề cập đến người có sức khỏe bình thường. Chẳng hạn, các bài tập thư giãn trong yoga thực hành riêng rẽ hoặc phối hợp với pranayama nhằm cải thiện khả năng hô hấp cho người bình thường. Nhiều bài báo cáo như thế đã miêu tả các lợi ích cho phép điều tức trong yoga. Một nhược điểm của yoga là các bài tập kiểm soát hơi thở không thể tiến hành được trong đợt lên cơn hen suyễn cấp tính, chúng chỉ tiến hành thuận lợi nhất vào lúc người bệnh không bị lên cơn.

LIỆU PHÁP TÂM LÝ -TRỊ HEN SUYỄN

Không còn nghi ngờ gì nửa rằng trạng thái tâm hồn và tình cảm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Từ thập niên 1940 cho đến thập niên 1970 rất nhiều người quan tâm đến mối tương quan giữa tinh thần và thể xác. Các biện pháp tinh vi đã được sáng tạo nhằm giúp cho người bệnh thích ứng khả quan hơn với bối cảnh xã hội của họ. Thành quả gặt hái được là người ta đã am hiểu hơn về mối tương quan giữa tinh thần và thể xác, và mối tương quan này bị ảnh hưởng ra sao bởi môi trường xã hội. Ngoài ra, người ta cũng đạt được một số tiến bộ về việc chăm sóc đối phó một số bệnh theo quan điểm này.

Thời ấy, người ta có khuynh hướng cho rằng hen suyễn là một bệnh tâm sinh lý, và tư vấn tâm lý hay tâm lý kiệu pháp là biện pháp chữa trị công hiệu. Một số thầy thuốc còn đi xa hơn nữa đồng hóa cơn khò khè với tiếng khóc đòi mẹ của em bé. Nhưng với đà tiến bộ lớn lao của các phương pháp chăm sóc sức khỏe về mặt thể xác, sự chú trọng về tâm sinh lý đã giảm đi nhiều. Hiện nay, dù biết rằng tâm trạng có ảnh hưởng đến hen suyễn, người ta không còn cố chấp rằng các rối loạn tâm lý là nguyên nhân gây bệnh hen suyễn nữa. Mặc dù khuyên bảo của người khác hiện vẫn được xem là quan trọng, nhưng nó cũng chỉ là một yếu tố trong toàn bộ nỗ lực chăm sóc và đối phó với bệnh tình.

LIỆU PHÁP NẮN CỘT SỐNG – TRỊ HEN SUYỄN

Lý thuyết nắn cột sống ( Chiropractic theory ) cho rằng hầu hết các bệnh tật đều do tình trạng cột sống  không thẳng hàng. Lý thuyết này chủ trương dùng tay nắn bóp điều chỉnh các đốt xương sống thẳng hàng có thể giúp cho bệnh thuyên giảm. Trên thực tế, các nhà chuyên môn nên dùng X quang để tìm ra đốt sống lưng nào không nằm đúng vị trí, rồi dùng thủ thuật xoa bóp để điều chỉnh cột sống cho thẳng hàng và khẳng định rằng bệnh tật sẽ thuyên giảm. Tuy vậy, chưa có chứng cứ nào cho thấy chủ trương  này là đúng đắn. Cũng chưa có bằng chứng về hiệu quả của liệu pháp “tia”, dùng bức xạ cường độ thấp không xuyên qua làn da. Rất có thể bệnh hen suyễn phần nào giảm bớt khi chữa trị theo liệu pháp này chính là nhờ sự căng thẳng về mặt tâm lý xã hội đã giảm đi hoặc nhờ cải thiện khả năng thở hít như đã đề cập.

LIỆU PHÁP VI LƯỢNG ĐỒNG CĂN

Các nguyên tắc làm nền tảng cho liệu pháp vi lượng đồng căn ( homeopathy ) đã có từ thời Hippocrates, vị thầy thuốc Hy lạp cổ đại được tôn xưng là cha đẻ của nền Tây y hiện đại. Alippocrates tin rằng một số chất gây bệnh, và rằng pha các chất ấy thật loãng cho bệnh nhân dùng sẽ chữa được bệnh. Lý thuyết này thịnh hành ở Hoa Kỳ  vào đầu thể kỷ 18, nhưng đã nhanh chóng bị quên lãng vì không đem lại hiệu quả mong muốn. Đến nay liệu pháp vẫn được Bộ Y Tế Anh quốc công nhận là một liệu pháp ngoài tây y chính thống.

Ít có chứng cứ cho thấy liệu pháp vi lượng đồng căn có công hiệu, nhưng liều lượng các chất sử dụng quá thấp nên nó cũng không gây tai hại gì đáng kể. Chẳng hạn, theo một bài viết về cách thức chữa trị trên thực tế theo liệu pháp này công bố vào năm 1842 của bác sĩ Oliver Wendell Homes : ” Bác sĩ Hahnemann, cha đẻ của liệu pháp vi lượng đồng căn, dùng các dung dịch pha loãng các liều thuốc.

DÙNG THẢO DƯỢC VÀ CHẾ ĐỘ ẨM THỰC

các loại thảo dược
các loại thảo dược

Qua nhiều thế kỷ, thảo dược đã góp phần lớn lao vào sự tiến bộ trong điều trị. Đặc biệt trong việc chăm sóc bệnh hen suyễn, các mặt thuốc thuộc họ ephedrime đã đóng góp quan trọng vào nỗ lực chăm sóc và chữa trị. Khởi thủy, mặt thuốc Crornolyn được chiết xuất từ rễ của một loại thảo mộc ở Hoa Kỳ, và công cuộc tìm kiếm thảo dược để chế biến ra các mặt thuốc công hiệu đã được tiến hành từ lâu đời. Cho đến nay, người ta vẫn còn hy vọng sáng chế được nhiều mặt thuốc mới từ thảo dược. Khi tìm được thảo dược thích hợp, người ta phải thận trọng cân nhấc tinhsan toàn cũng như hiệu quả của nó. Thế mà đến nay vẫn chưa có thử nghiệm thảo dược nào đáp ứng được điều kiện phê chuẩn của Cơ quan Quản trị thực phẩm và thuốc men cả.

Vấn đề cũng xảy ra tương tự đối với các chế độ ăn kiêng đặt biệt. Như đã thảo luận trước đây, thực phẩm và đồ gia vị có thể gây hen suyễn ở một số người. Thực phẩm và  gia vị độc hại có thể nhận biết được bằng cách lập nhật ký ghi lại thực đơn các bữa ăn. Cân nhắc thận trọng mối tương quan giữa thực phẩm đã ăn vào với cơn hen suyễn bộc phát là việc làm hữu ích. Thế nhưng, ngoài việc tránh né các thức ăn độc hại được xem là một biện pháp chữa trị hen suyễn do dị ứng, đến nay vẫn chưa có một chế độ ẩm thực đặc biệt nào giúp người ta chống lại bệnh hen suyễn cả.

SINH THÁI HỌC LÂM SÀNG

Một nhóm bác sĩ tin rằng chỉ cần số lượng nhỏ các loại hóa chất hiện diện trong môi trường cũng đủ gây ra rất nhiều triệu chứng bệnh ở một số người. Các nhà sinh thái lâm sàng (clinical ecologist ) này cho rằng chỉ cần hít vào người một lượng rất nhỏ hóa chất độc hại hoặc dùng một ít thức ăn, thức ăn và thuốc men cũng có thể khiến cho người bệnh lên cơn hen suyễn. Như vậy, chỉ cần tiếp xúc với số lượng cực nhỏ các chất độc hại này ở bệnh nhân có thể xuất hiện rất nhiều triệu chứng khác nhau. Nhắc lại, triệu chứng (sympton ) là cảm nhận về mặt thể xác cho người bệnh báo cáo, còn dấu hiệu ( sign ) là khám phá do bác sĩ quan sát được qua khám nghiệm. Bác sĩ thật khó lòng xác nhận dấu hiệu nào là triệu chứng bệnh, trong khi đó hen suyễn lại  là căn cứ rất nhiều vào các triệu chứng mà bệnh nhân báo cáo do tiếp cận với các chất độc hại trong môi trường sống gây ra.

Trong số các chất gây ra các triệu chứng bệnh có loại men Candida albicans. Loại men nấm này rải rác trong không khí và dưới đất ở khắp mọi nơi. Tình trạng tiếp xúc thường xuyên với loại mấn candida khiến cho trong cơ thể của hầu hết mọi người đều nảy sinh kháng thể chống lại chúng. Thế nhưng, Candida lại bị các nhà sinh thái lâm sàng xem là chất độc hại gây nhiều rắc rối nhất. Vậy mà số người mắc bệnh do tiếp xúc với loại men này thực tế rất ít.  Phải tiếp xúc với số lượng rất lớn loại men Candida người ta mới có triệu chứng mắc bệnh, trong khi các nhà sinh thái lâm sàng cho rằng chỉ cần một lượng cực nhỏ cũng đủ gây bệnh rồi.

Để lý giải quan điểm về các rắc rối do tiếp xúc với số lượng cụ thể các loại hóa chất, men nấm, và các chất độc hại khác, các bác sĩ theo chủ trương sinh thái lâm sàng đã thiết kế các căn phòng cô lập hoàn toàn với môi trường bên ngoài. Người ta kiểm soát tất cả không khí tràn vào phòng, nhiệt độ, và ánh sáng trong phòng. Ngoài ra, thức ăn và thức uống đưa  vào phòng cũng được kiểm tra chặt chẽ. Sử dụng phương tiện này, các bác sĩ đánh giá được tình hình sức khỏe của bệnh nhân trước và sau khi tiếp xúc với các số lượng nhỏ các chất bị cho là gây hại, bao gồm các hạt bụi bay lượn lờ trong không khí, các loại hóa chất, thức ăn và thuốc men. Đánh giá theo quan điểm sinh thái lâm sàng rất tốn kém, bởi vì môi trường được kiểm soát toàn diện  như thế đòi hỏi phải được xây cất đặc biệt và chăm sóc thận trọng, bao gồm cả thức ăn và thuốc men đã sử dụng nữa. Phần lớn là vì tốn kém, cũng như vì loại cô lập này chỉ hữu ích cho một số người, và ngoài ra không giúp phát hiện được nguyên nhân gây bệnh trong hầu hết các trường hợp, nên hiện nay hầu như không còn ai hưởng ứng kỹ thuật này nữa.

Nhìn chung, các liệu pháp đề cập trên đây đều không xứng đáng được gội là các liệu pháp thay thế. Đúng ra, nên xem chúng là các liệu pháp bổ sung cho các liệu pháp Tây y chính thống, chứ không thể cho rằng chúng thay thế được cho các biện pháp chữa trị hen suyễn. Nói như thế không có nghĩa là cho rằng chúng vô dụng đối với một số bệnh nhân kém may mắn, không được chữa trị bằng các liệu pháp truyền thống được mọi người công nhận.

Trên thực tế các liệu pháp chọn dùng này có công hiệu không? Và nếu có, thì công hiệu đến mức nào và tại sao? Câu trả lời tùy thuộc phần nào vào liệu pháp được cứu xét. Chẳng hạn, môn yoga thường gặt hái được kết quả khả quan bởi vì nó giúp tăng cường hoạt động của cơ thể bình thường. Còn hầu hết các biện pháp khác đều không đạt được thành quả như thế, như thuật án ma chẳng hạn.

Sợi chỉ xuyên suốt vấn đề này chính là hiệu quả đánh lừa ( placebo efffect ). Từ thời cổ xưa ở Hy Lạp, các thầy thuốc đều biết có một số người được lành bệnh nhờ bất kỳ liệu pháp nào. Còn trong y học hiện đại, các nhà sản xuất thuốc so sánh hiệu quả của một mặt thuốc mới với kết quả của một nhóm bệnh nhân dùng các viên thuốc không có thành phần dược tính chế tạo giống y hệt thuốc thật.

các viên thuốc giả này được gọi là placebo. Thuật ngữ này xuất phát từ tiếng La Tinh có nghĩa là ” Tôi hài lòng “. Placebo được công chúng gọi là các ” viên thuốc đường ” , bởi vì chúng được làm bằng đường chứ không có dược tính gì cả. Có đến 20% bệnh nhân dùng placebo đã phần nào cải thiện tình hình sức khỏe. Và hiệu quả đánh lừa xảy ra đối với mọi dạng liệu pháp, chứ không riêng gì loại thuốc uống. Thuốc tiêm cũng có hiệu quả đánh lừa; và các biện pháp trị liệu khác như án ma, sức nóng, hơi lạnh, và các kỹ thuật khác cũng có hiệu quả đánh lừa tương tự.

Có lẽ chúng ta có thể lý giải các trường hợp thành công nhờ các liệu pháp hen suyễn bằng cách viện dẫn hiệu quả đánh lừa. Chúng ta đều biết rằng có một mối tương quan chặt chẽ giữa tinh thần và thể xác, và rằng có các dây thần kinh nối liền giữa não bộ và phế quản. Cho  nên, chúng ta có thể lý giải hiệu quả đánh lừa phát huy tác dụng nhờ mối tương quan này.

TÌM HIỂU BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH HEN SUYỄN

Các bạn có thể tìm thấy chúng tôi bằng các tù khóa:

hen suyễn có hỗ trợ điều trị được khôngViêm phế quản mãn tínhbệnh hen phế quản và cách điều trị, Bài thuốc trị hen suyễn, những biểu hiện của hen phế quản, điều trị hen trẻ em, viêm phế quản hen, …

Bình Luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

YÊU CẦU NHÂN VIÊN NHÀ THUỐC GỌI LẠI